Lý thuyết giao tiếp trong trị liệu gia đình của Satir (kỳ 1)

Lý thuyết giao tiếp trong trị liệu gia đình của Satir (kỳ 1)

Giới thiệu

      Virginia Satir là một trong những nhà tiên phong trong lĩnh vực trị liệu gia đình và bà cũng là người đóng góp một mô hình giao tiếp trong trị liệu gia đình (Griffin & Greene, 1999). Mặc dù mô hình trị liệu gia đình của Satir có định hướng về trải nghiệm và giao tiếp, tôi quyết định chỉ tập trung vào phần giao tiếp trong giới hạn bài viết này. Bài tổng quan này sẽ bàn luận về lý thuyết giao tiếp (communication theory), mô hình giao tiếp trong trị liệu gia đình (communication model in family therapy) và những đặc điểm của các cách thể giao tiếp (communication stances).

Lý thuyết giao tiếp (communication theory)

      Khi chúng ta nhìn vào một học thuyết giao tiếp, dĩ nhiên câu hỏi mà chúng ta đặt ra là “Giao tiếp là gì?”. Theo Satir (1983), “giao tiếp” có thể được hiểu bằng những đáp ứng có lời và không lời trong một bối cảnh xã hội, và được nhìn như một chỉ báo tin cậy về chức năng liên nhân vị (interpersonal functioning). Con người cần giao tiếp rõ ràng vì họ cần thông tin từ người khác để sống sót. Một đứa trẻ cần giao tiếp như một phương tiện để học hỏi về thế giới, cũng như chúng ta cũng cần giao tiếp đề hiểu về bản chất của mối quan hệ. Satir (1983) quan niệm rằng từ ngữ là công cụ cho con người để cho và nhận thông tin. Nếu một người mơ hồ vì anh ấy cho rằng một ví dụ có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp khác, anh ấy sẽ sử dụng sai khái niệm của cái gì (what), người nào (who), khi nào (when). Lấy ví dụ, anh ấy có thể nói “tất cả phụ nữ trên đời này đều tệ,” điều mà chúng ta hay gọi là “tổng quát hóa quá mức” (over-generalization).

      Satir (1983) cho rằng nếu người nhận thông tin (receiver) loạn chức năng (dysfunctional) giống như người gửi thông tin (communicator), người nhận sẽ đồng ý hoặc bất đồng với phát biểu của người gửi, điều này dẫn tới sự giao tiếp thiếu rõ ràng. Trong trường hợp người nhận có chức năng tốt (functional), anh ấy sẽ có những ý tưởng tốt hơn về những gì đang được thảo luận bằng cách đặt những câu hỏi hoặc phản hồi ý kiến. Mặc dù vậy, phản ứng của người gửi loạn chức năng có thể là lập lại câu nói mà không có những điều chỉnh nào, cự tuyệt những đề nghị hoặc buộc tội người nhận như là “bạn đã nghe rồi đó,” “như tôi đã nói, tất cả phụ nữ đều tệ,” “sao phải khó tính thế?”

      Sau cùng, Satir (1983, pp.88) mô tả một vài đặc tính của một người giao tiếp có chức năng tốt: “(1) phát biểu trường hợp của anh ấy một cách vững chắc; (2) đồng thời làm rõ điều mà anh ấy nói; (3) cũng như đề nghị những sự phản hồi; (4) dễ tiếp thu những phản hồi mà anh ấy nhận.” Satir (1983) kết luận rằng người loạn chức năng giao tiếp cũng thường gửi những thông điệp không hoàn chỉnh mặc dù không thể nói rằng tất cả những thông điệp không hoàn chỉnh bắt nguồn từ người loạn chức năng vì bản chất của giao tiếp là không hoàn chỉnh. Điều tạo nên sự khác biệt giữa người có chức năng tốt và người loạn chức năng là mức độ của sự không hoàn chỉnh (incompleteness).

Mô hình chu trình giao tiếp (model of communication cycle)

      Bandler, Grinder & Satir (1976) đã tạo ra một mô hình để miêu tả tiến trình giao tiếp phức tạp. Mô hình được minh họa bằng sơ đồ dưới đây.

Ngắn gọn, mỗi giai đoạn của tiến trình phía trên có thể được mô tả như sau: (1) Giao tiếp (Communication) là những thông điệp được gửi bởi người gửi (communicator) thông qua nhiều kênh khác nhau như ngôn ngữ cơ thể, âm điệu, tông giọng, từ ngữ, giao tiếp mắt……v.v. Người gửi có thể nhận thức hoặc không nhận thức về những thông điệp mà mình đã gửi; (2) Trải nghiệm (Experience) là những thông điệp được nhận trực tiếp bởi người nhận (receiver) thông qua các giác quan. Cũng giống như người gửi ở giai đoạn Giao tiếp, người nhận có thể nhận thức hoặc không nhận thức được những thông điệp này; (3) Kết luận (Conclusion) là sự thấu hiểu của người nhận về ý nghĩa của những thông điệp. Một lần nữa, người nhận có thể nhận thức hoặc không thể nhận thức về sự thấu hiểu này; (4) Tổng quát hóa (genernalization) là cách mà người nhận tái kết nối với những trải nhiệm của chính anh ấy về gia đình gốc và tổng hòa những cảm nhận này; (5) Hành vi phản ứng (response behavior) là cách thức người nhận phản ứng với thông điệp. Bước này tương đương với bước đầu tiên khi người nhận và người giao tiếp đổi vị trí cho nhau.

      Virginia satir & đồng nghiệp (1976) đã phân chu trình giao tiếp này thành 2 kiểu chu trình: chu trình giao tiếp bị định khung (calibrated communication cycle) và chu trình giao tiếp có phản hồi (feedback communication cycle). Chu trình giao tiếp bị định khung được mô tả theo 5 bước tiến trình: (1) Giao tiếp là những thông điệp được người gửi (communicator) truyền đi, người mà đang thể hiện sự thiếu hài hòa (incongruence) và thường không nhận thức được những thông điệp xung đột của chính người đó; (2) Trải nghiệm: trong trường hợp người nhận phải đối mặt với nhiệm vụ hiểu những thông điệp xung đột. Người nhận có thể lờ đi hoặc không nhận thức được sự xung đột trong thông điệp. Mặt khác, khi người nhận nhận thức được những xung đột được truyền đi, anh ấy sẽ cảm thấy không thoải mái trong giao tiếp. Sớm muộn anh ấy cũng sẽ trở nên không hài hòa trong phản ứng của mình. (Nhấn mạnh) Về mặt thực hành lâm sàng, chúng ta có thể thấy tiến trình này có thể giải thích cho những trải nghiệm không thoải mái xảy ra thường xuyên bên trong long của NTL; (3) Kết luận: người nhận sẽ có một trong hai kiểu trải nghiệm sau. Cái thứ nhất người nhận chỉ chấp nhận cái phần phù hợp của thông điệp mà bỏ qua phần xung đột trong giao tiếp. Cái thứ hai, người nhận nào nhận ra những xung đột có thể nghĩ người gửi là một kẻ thao túng (manipulative), xấu (evil), hoặc có ác ý; (4) Tổng quát hóa là giai đoạn mà những trải nghiệm trong gia đình gốc bị kích hoạt bởi những thông điệp xung đột. Ví dụ người gửi thể hiện 1 vài cảm nhận của họ bằng cách chỉ ngón tay. Ngay lập tức, người nhận sẽ phản ứng với chỉ cử chỉ “chỉ ngón tay” của người gửi và hồi tưởng lại những trải nghiệm quá khứ. Người nhận nhảy ngay đến kết luận rằng ai đó chỉ ngón tay nghĩa là họ đang giận dữ. Có thể là vì chính người nhận cũng có trải nghiệm sự giận dữ của ai đó khi họ chỉ ngón tay; (5) Hành vi phản ứng là những phản ứng không hài hòa của người nhận sẽ bắt đầu 1 chu trình giao tiếp bị định khung mới trừ phi anh ấy trở nên hài hòa với cảm nhận của chính mình.

      Trong chu trình giao tiếp bị định khung, Satir cho rằng cả người gửi và người nhận đều không hài hòa. Ngược lại, trong chu trình giao tiếp có phản hồi, người nhận (ám chỉ NTL) trở nên hài hòa dù cho người gửi có hài hòa hay không: (1) sẽ không có khó khăn nào nếu người gửi thông điệp hài hòa với chính bản thân mình; (2) trong trường hợp người gửi không hài hòa, người nhận có thể thêm vào những phản hồi đến người gửi để mời gọi anh ấy tổng hợp tất cả những thông điệp xung đột trong gđ này; (3) trong giai đoạn kết luận, khi người nhận nhạy cảm với cảm nhận thật của chính anh ấy, anh ấy sẽ có thể tổ chức lại sự rối rắm để tự do lựa chọn và khám phá những cơ hội triển nở và phát triển cùng người gửi; (4) trong giai đoạn Khát quát hóa; khi trải nghiệm quá khứ bị kích hoạt bởi những thông điệp không hài hòa, người nhận đủ nhạy cảm để nhận ra rằng anh ấy chỉ hiện diện 1 phần ở hiện tại khi tương tác vì phần khác của anh đã hướng sự chú ý đến những trải nghiệm khác. Điều này để cho anh ấy tiếp tục và tái tập trung với sự giao tiếp hiện tại và chuyển sự chú ý của anh đến hiện tại; (5) Trong giai đoạn hành vi phản ứng, nếu người nhận và người gửi có tự do để bàn luận bất cứ sự bối rối hoặc thiếu hài hòa nào, họ sẽ phát hiện ra những khuôn mẫu giao tiếp sai (miscommunication pattern) và có cơ hội để bắt đầu tiến trình học hỏi.

 

Tài liệu tham khảo

Bandler, R., Grinder, J., & Satir, V. (1976). Changing With Families: A Book About Further Education For Being Human. California: Science and Behavior Books, Inc.

Griffin, W. A., & Greene, S. M. (1999). Models Of Family Therapy: The Essential Guide. New York: Taylor & Francis Group.

Satir, V. (1983). The Conjoint Family therapy (3rd ed.). California: Science and behavior Books, INC.

Satir, V. (1991). The Satir Model: Family therapy and Beyond. California: Science and Behavior Books, INC.

 

(còn tiếp)