Hành vi vai trò (kỳ 2)

Hành vi của các vai trò khác nhau trong một gia đình phụ thuộc chất (kỳ 2)

Anh hùng gia đình (The Family Hero)

            Vai trò của anh hùng gia đình thường được nhận bởi đứa con lớn nhất. Vai trò này cũng được xem như là “đứa trẻ phụ mẫu” (parental child), “ngôi sao, và “kẻ đạo đức giả” (goody two shoes) (Deutsch, 1982). Đứa trẻ này cố làm mọi thứ đúng. Anh/cô ấy là người có thành tích cao trong gia đình, cầu tiến và có trách nhiệm. Trong những tình huống gia đình (vd cha mẹ phụ thuộc chất), đứa trẻ thường được khâm phục cho việc trở nên tuyệt vời dưới những tình huống khó khăn. Anh hùng gia đình thường nhận những trách nhiệm phụ mẫu (parental responsibilities) mà họ đã bỏ qua. Anh/cô ấy chăm sóc những đứa em bằng cách nấu cho chúng ăn, đưa chúng đến trường, cho chúng ngủ, giặt đồ……v.v. Cha mẹ không phụ thuộc (vd người trao quyền thủ lãnh) thường không có nhiều thời gian cho công việc nhà vì thời gian bị chia ra cho công việc và chăm sóc người nghiện.

            Anh hùng gia đình thường xuyên làm tốt trong học đường và thể thao (deutsch, 1982). Họ có thể là lớp trưởng, học sinh danh dự, đội trưởng đội bóng rổ, hoặc giống như thế. Họ có xu hướng đạt được thành tự và thường xuyên phát triển những nghề nghiệp có sự tôn trọng cao. Deutsch (1982) đề nghị rằng nhiều người trong số họ sau này trở thành “người nghiện công việc.”

            Anh hùng gia đình giảm căng thằng trong gia đình đơn giản bằng việc làm mọi thứ “đúng.” Anh hùng là nơi tự hào của gia đình, tạo cảm hứng một cách tuyệt vọng cho sự hy vọng cần thiết (inspiring desperately needed hope) và cho gia đình cảm nhận một vài điều gì đó tốt. Thành tựu của anh hùng là sự phân biệt lúc thành viên gia đình có thể tụ họp và nói với nhau, “Chúng ta cũng không tệ lắm đâu.”

Con dê tế thần (The Scapegoat)

            Vai trò của con dê tế thần thường được nhận bởi đứa con lớn thứ hai. Con dê tế thần được nhìn như một cái tôi khác của anh hùng gia đình (Deutsch, 1982). Đứa trẻ này làm rất ít điều đúng và khá nổi loạn, có lẽ thậm chí là chống đối xã hội. Con dê tế thần có thể đánh lộn, trộm cắp, hoặc gặp rắc rối trong trường học hoặc cộng đồng; chúng thường được dán nhãn “tội phạm vị thành niên.” Con dê nam thường bạo lực, trong khi con dê nữ thường trốn chạy hoặc tham gia vào việc mại dâm. Con dê tế thần của cả 2 giới cũng thường lạm dụng rượu và chất.

            Một đứa trẻ đóng vai trò con dê tế thần dường như đồng hóa với người cha mẹ phụ thuộc chất, không chỉ trong định nghĩa về lạm dụng chất mà còn trong nhiều cách khác nữa (thái độ với uy quyền, thái độ với giới tính đối lập, hứng thú nghề nghiệp, vv). Con dê tế thần điển hình cảm thấy thấp kém so với anh hùng gia đình; tuy vậy cả hai thường rất gần gũi về mặt cảm xúc, mặc dù có những khác biệt trong hành vi của họ. Mối liên hệ đặc biệt này có thể tiếp tục xuyên suốt thời kì trưởng thành.

            Đứa trẻ này thường được xem như là “con dê tế thần” vì nó là mục tiêu để cha mẹ phụ thuộc chất chuyển hướng sự thất vọng và giận dữ vào. Đứa trẻ có thể bị lạm dụng cả về mặt cảm xúc và thể chất. Điều này đặc biệt đúng khi cha mẹ phụ thuộc chất là cha và con dê tế thần là con trai của ông. Hậu quả là, con dê tế thần, trở thành “con trai của cha.” Đó là, đứa con trai đổ đầy sự giận dữ của người cha, làm theo những xu hướng tự hủy hoại bản thân và chống đối xã hội. Anh ấy lấy cha để làm mẫu mặc dù ghét ông.

            Con dê tế thần bộc lộ sự thất vọng và giận dữ của gia đình. Đứa trẻ trong vai trò này giữ cân bằng gia đình bằng cách hướng sự đổ lỗi từ cha mẹ phụ thuộc chất lên chính mình. Điều này cho phép cha mẹ phụ thuộc chất đổ lỗi ai khác nữa cho chính vấn đề sử dụng rượu và chất của ông/bà ấy. Nó cũng che chắn cho cha mẹ phụ thuộc chất khỏi sự đổ lỗi và oán giận. Tiến trình làm trệch hướng này để cho việc nghiện tiếp tục được diễn ra (Deutsch, 1982).

Đứa trẻ bị mất (The Lost Child)

            Thậm chí trong những gia đình có chức năng tốt, đứa trẻ giữa thường nhận được ít sự quan tâm hơn những đứa con khác, và chúng dường như ít có đóng góp cho gia đình hơn. Xu hướng này được thổi phồng trong gia đình phụ thuộc chất (Deutsch, 1982). “Đứa trẻ bị mất” có thể là đứa trẻ giữa nhưng cũng có thể là đứa con út. Đặc trưng của chúng là tránh sự xung đột bằng bất cứ giá nào. Những đứa trẻ như thế có xu hướng cảm thấy bất lực và được mô tả là “rất im lặng,” “rối nhiễu cảm xúc,” “trầm cảm,” “cách ly,” “thu rút”……v.v. Những đứa trẻ này có xu hướng bị quên lãng, như là chúng rất ngại. Chúng là người theo đuôi (follower), không phải là lãnh đạo. Chúng gắn với rất nhiều mơ tưởng (fantasy). Nếu chúng kiên cường ở trong học đường theo bất cứ cách nào, nó là bởi đức tính của việc kém tham dự (virtue of poor attendance) (Deutsch, 1982). Nếu được hỏi để làm điều gì mà chúng sợ, chúng có thể giả vờ không nghe lời hướng dẫn hoặc cho là không hiểu chúng (Deutsch, 1982). Những hành vi này chỉ ra sự thiếu an toàn rất lớn.

            Theo Deutsch (1982), đứa trẻ bị mất chắc là đứa trẻ khó để giúp nhất trong một gia đình loạn chức năng. Anh/cô ấy có thể không có bạn thân hoặc hệ thống khác bên ngoài gia đình cho sự hỗ trợ cảm xúc. Cũng như vậy, đứa trẻ thường không phá phách trên trường; vì thế giáo viên và tham vấn viên không xác định chúng có nhu cầu giúp đỡ.

            Như là người lớn, những đứa trẻ bị mất xuất hiện những vấn đề sức khỏe tâm thần đa dạng. Chúng có thể than phiền về lo âu và/hoặc trầm cảm và đi trị liệu tâm lý. Chúng có những khó khăn với các giai đoạn chuyển tiếp phát triển (developmental transitions) vì chúng sợ phải mạo hiểm. Vì thế, chúng có lẽ thoái thác việc ra quyết định về nghề nghiệp hoặc nơi sống. Chúng có lẽ cũng tránh khỏi những mối quan hệ thân mật một khi ai đó bắt đầu tiến quá gần. Theo Deutsch (1982), những đứa trẻ bị mất có khả năng hoặc không trong việc lạm dụng chất hoặc rượu. Nếu chúng lạm dụng, loại chất chúng chọn thường khác với loại mà cha mẹ phụ thuộc chất dung.

            Đứa trẻ bị mất giúp giữ cân bằng trong gia đình đơn giản bằng cách biến mất – đó là, bằng cách không nhận bất cứ sự chú ý nào. Về cơ bản, đứa trẻ nhỏ nhất trong vai trò này hỗ trợ sự thăng bằng gia đình bằng cách không gây thêm vấn đề mới nào và yêu cầu sự chú ý nhỏ nhất.

Linh vật (The Mascot)

            Vai trò phổ biến cuối cùng được mô tả được gọi là linh vật. Vai trò này cũng được xem là chú hề của gia đình (family clown). Đứa con út thường nhận vai trò linh vật. Mọi người trong gia đình thích linh vật và thoải mái khi có chúng xung quanh. Gia đình thường nhìn linh vật như là người mỏng manh và dễ tổn thương; vì thế, chúng có xu hướng trở thành đối tượng cho sự bảo vệ. Deutsch (1982) chú ý rằng thậm chí cha mẹ phụ thuộc chất cũng đối xử với linh vật với sự tử tế hầu hết thời gian. Linh vật thường hành động ngờ ngệt và làm trò cười, thậm chí đem bản thân chúng ra gây cười. Hành vi hề như một phòng vệ chống lại sự lo âu và sự không thỏa đáng.

            Họ thường có một nhu cầu khinh khủng trong việc nhận được sự thừa nhận từ người khác. Khi trưởng thành, họ có nhiều khả năng xuất hiện lo âu. Deutsch (1982) tin rằng họ có thể lạm dụng rượu và thuốc giảm đau. Đứa trẻ trong vai trò linh vật giúp gia đình giữ cân bằng nội môi bằng cách đem tiếng cười và niềm vui đến nhà. Bằng cách làm trò hề và trò đùa, chúng thắp sáng bầu không khí gia đình, trở thành một lực ngang bằng chống lại căng thẳng đang lưu hành và ngột ngạt trong gia đình loạn chức năng. Linh vật có thể là thành viên duy nhất mà không có ai trong gia đình than phiền.